Những bảo hiểm xã hội
2.1 Mở đầu
Cũng như trong trường hợp bảo hiểm sức khỏe, ở Ba Lan có thể có những bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng như tự nguyện. Trước hết tất cả người làm được thuê hợp pháp ở Ba Lanvà làm việc trên lãnh thổ Ba Lan, trong đó có cả người nước ngoài phải đóng bảo hiểm bắt buộc. Điều đó có nghĩa là hàng tháng người thuê phải nộp một phần thu nhập của người làm (là khoản bảo hiểm xã hội) cho Cơ quan Bảo hiểm Xã hội (ZUS).
Người thuê có trách nhiệm phải khai báo người làm mới cho bảo hiểm xã hội trong vòng bảy ngày kể từ khi người làm bắt đầu làm việc.
Những người tiến hành hoạt động của chính mình (ví dụ như các chủ nhân của các hãng) phải tự tính toán và nộp các khoản bảo hiểm xã hội.
Hệ thống bảo hiểm xã hội ở Ba Lan gồm có những yếu tố sau:
− bảo hiểm hưu trí – là bảo hiểm trong trường hợp không có khả năng làm việc do cao tuổi;
− bảo hiểm trợ cấp – là bảo hiểm trong trường hợp mất khả năng làm việc hay người nuôi gia đình bị chết;
− bảo hiểm ốm đau – là bảo hiểm trong trường hợp ốm đau hay sinh đẻ;
− bảo hiểm tai nạn – là bảo hiểm đối với những tai nạn lao động và các bệnh nghề nghiệp.
Trong trường hợp xảy ra những tình huống nào đó đã được bảo hiểm (ốm đau, sinh đẻ, đến tuổi về hưu, mất khả năng làm việc, tai nạn lao động), người được bảo hiểm có khả năng được nhận tiền hưu trí, mất sức hay phúc lợi khác.
Song nếu người làm được thuê không hợp pháp (như không có giấy phép lao động hay không ký hợp đồng có biên chế với người chủ) và người chủ không nộp các tiền bảo hiểm cho ZUS, họ sẽ không có quyền hưởng các phúc lợi này. Nếu người làm được thuê hợp pháp mà người chủ không nộp các khoản tiền bảo hiểm bắt buộc, họ có quyền kiện lên tòa lao động và bảo hiểm xã hội hay tìm sự giúp đõ trong cơ quan giám sát lao động hay ZUS.
Những người thuê có trách nhiệm hàng tháng thông báo cho những người làm của mình về mức trả các khoản bảo hiểm. Để làm điều này hị có thể dùng tờ khai ZUS RMUA.
2.2 Những văn bảp pháp luật
Hệ thống bảo hiểm xã hội ở Ba Lan được điều tiết bằng những văn bản pháp luật sau:
− Luật ban ngày 13 tháng 10 năm 1998 về hệ thống bảo hiểm xã hội (Nhật trình các luật năm 2007 số 11 mục 74) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU20070110074
− Luật ban ngày 17 tháng 12 năm 1998 về tiền hưư trí và mất sức từ Quỹ Bảo hiểm Xã hội (Nhật trình các luật năm 1998 số 162 mục 1118) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU19981621118
− Luật từ ngày 25 tháng sáu năm 1999 về những phúc lợi dạng tiền từ bảo hiểm xã hội khi ốm đau và sinh đẻ (Nhật trình các luật năm 2005 số 31 mục 267 với những thay đổi sau đó) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU20050310267
2.3 Những người nước ngoài nào phải bảo hiểm hưu trí và trợ cấp?
- Những người được bảo hiểm bắt buộc
Tất cả người nước ngoài được thuê trên lãnh thổ Ba Lan phải bảo hiểm hưu trí và trợ cấp bắt buộc.
Những học sinh và sinh viên đến tuổi 26 được thuê kiểu hợp đồng đại lý/hợp đồng đặt theo công việc/hợp đồng kiểu khác về các dịch vụ không bất buộc phải bảo hiểm hưu trí và trợ cấp. Điều đó có nghĩa là từ những thu nhập của những người đó người thuê không phải lấy tiền để bảo hiểm những khoản này.
Ø Trường hợp ngoại lệ là những người nước ngoài không ở thường trú tại Ba Lan và được thuê trong các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, các cơ quan lãnh sự, công vụ, các công vụ đặc biệt hay tổ chức quốc tế (trừ khi các hiệp định quốc tế qui định khác đi). Trong thực tế họ được bảo hiểm theo các hợp động với các người thuê hay các hợp đồng quốc tế.
Ø Ngoài ra những người nước ngoài sau trên lãnh thổ Ba Lan chịu bảo hiểm hưu trí và trợ cấp bắt buộc:
nhận các học bổng thể thao; làm các việc được trả tiền trên cơ sở được cử đi làm việc trong thời gian chịu án giam hay tạm giam; là những người thất nghiệp đã đăng ký trong phòng lao động; nhận học bởng thuộc lĩnh vực tập huấn, thực tập hay chuẩn bị nghề nghiệp cho những người trưởng thành mà được cử đi bởi một cơ quan khác với phòng lao động huyện; nhận học bổng trên cơ sở các qui định về khuyến khích thuê làm việc và các tổ chức của thị trường lao động, trong phạm vi nghiên cứu sau bằng và không được thuê làm việc; là những người tu hành; đang nghỉ nuôi con hay hưởng phúc lợi sinh đẻ hay một phúc lợi khác tương đương với trợ cấp sinh đẻ; hưởng các phúc lợi xã hội được trả trong thời kỳ nghỉ hay nhận phúc lợi xã hội được trả trong thời gian chuyển nghề và tìm việc mới, nhận được tiền lương có trong thời kỳ hưởng phúc lợi thợ mỏ hay trong thời kỳ hưởng học bổng chuyển nghề có được từ những qui định và các hiệp đinh lao động tập thể; hưởng phúc lợi tập huấn được trả sau khi hết làm việc.
Những người bảo hiểm tự nguyện
Những người nước ngoài sau có thể bảo hiểm tự nguyện hưu trí và trợ cấp:
− các sinh viên và nghiên cứu sinh (nếu họ không có bảo hiểm này từ các nguồn khác);
− học viên các hội thảo tu nghiệp, tân học sinh, các dự thính và tu hành trẻ có tuổi đến 25;
− những người không thể làm việc do chăm sóc thành viên trong gia đình − do vậy không chịu bảo hiểm hưu trí và mất sức bắt buộc nhưng có thể bảo hiểm tự nguyện;
− những người thực tập thích nghi trên những nguyên tắc công nhận trình độ nghề nghiệp có trong Liên minh Châu Âu;
− những nhà hoạt động kinh doanh đang bảo hiểm đã tạm thời treo hoạt động kinh doanh của mình.
2.4 Ai phải bảo hiểm ốm đau?
Những người nước ngoài là người làm (theo qui địnhlà những người được thuê trên cơ sở : hợp đồng lao động, bổ nhiệm, lựa chọn, phong cấp) phải bảo hiểm ốm đau bắt buộc.
Hãy lưu ý! Do điều trên những người làm việc thêm tại nhà, trên cơ sở hợp đồng đặt theo công việc, đặt theo sản phẩm, hợp đồng đại lý hay những người tiến hành hoạt động kinh doanh không phải bảo hiểm ốm đau.
Những người khác (trong đó cả những người làm việc thêm tại nhà, trên cơ sở hợp đồng đặt theo công việc, đặt theo sản phẩm, hợp đồng đại lý hay những người tiến hành hoạt động kinh doanh) có thể bảo hiểm tự nguyện.
2.5 Ai phải bảo hiểm tai nạn?
Những người phải bảo hiểm hưu trí và mất sức bắt buộc cũng phải bảo hiểm tai nạn bắt buộc. Cả những người hoạt động kinh doanh mà do vậy phải bảo hiểm hưu trí và mất sức bắt buộc cũng phải bảo hiểm tai nạn bắt buộc.
Ø Đến 1 thánh mười 2010, những người thất nghiệp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hay phúc lợi đoàn tụ và những người hưởng phúc lợi tập huấn sau khi ngừng làm việc sẽ không phải bảo hiểm tai nạn bắt buộc.
2.6 Các khoản tiền đóng cho những bảo hiểm xã hội
Những người tiến hành hoạt động kinh doanh của chính mình phải tự tính toán và chuyển tiền đóng bảo hiểm hưu trí, mất sức, ốm đau và tai nạn. Cả những người bảo hiểm tự nguyện cũng tự đóng các khoản tiền bảo hiểm. Người thuê hay người đặt công việc phải đóng tiền bảo hiểm cho các người làm. Bằng chứng là người thuê đã trả tiền bảo hiểm cho người làm là tờ khai ZUS RMUA.
Mốc cơ sở tính các khoản bảo hiểm xã hội là các thu nhập (các thu nhập brutto/học bổng/trợ cấp thất nghiệp/mức lương tối thiểu trong trường hợp người tu hành).
Ø tiền bảo hiểm hưu trí bằng 19,52% mốc cơ sở của nó;
Ø tiền bảo hiểm trợ cấp – 6%;
Ø tiền bảo hiểm ốm đau – 2,45%;
Ø tiền bảo hiểm tai nạn – từ 0,40% đến 8,12% (phụ thuộc vào nghề nghiệp thực hiện và độ rủi ro tai nạn hay bện nghề nghiệp liên quan).
Ø Một phần tiền bảo hiểm hưu trí sẽ được ZUS chuyển cho Quỹ Hưu trí Mở được lựa chọn bởi người được bảo hiểm (được gọi là trụ cột thứ hai) .
Ngoài ra những người thuê phải có trách nhiệm nộp bảo hiểm cho Quỹ lao động (2,45%) và Quỹ các phúc lợi đảm bảo cho người làm (0,10%). Nhờ bảo hiểm cho Quỹ lao động mà khi mất việc có thể được hưởng các phúc lợi tương ứng, còn Quỹ các phúc lợi đảm bảo cho người làm đảm bảo cho người làm tiền lương khi người thuê không trả được nữa. Các nguyên tắc này cũng được áp dụng cho những người nước ngoài làm việc ở Ba Lan.
2.7 Tiền hưu trí
Nguyên tắc chung trả tiền hưu trí nói rằng tất cả những người sinh sau 31.12.1948 đã trả cácbảo hiểm ở Ba Lan, sau khi đạt tuổi về hưu (xem dưới đây) có thể được hưởng tiền hưư trí.
Song cần phải nhớ rằng việc trả tiền hưu trí cho một số nước được qui định bằng các hiệp ước quốc tế.
- Những công dân của các nước Liên minh Châu Âu – Các qui định về phối hợp các hệ thống bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với họ. Những thời kỳ bảo hiểm có trong các nước của Liên minh được cộng lại, còn mỗi nước trả riêng tiền này. Những thông tin chi tiết về đề tài này có thể tìm thấy trên trang web của Bộ Lao động và Chính sách Xã hội − http://www.mpips.gov.pl/index.php?gid=64. Vụ Phối hợp các hệ thống bảo hiểm xã hội của Bộ đảm nhận vấn đề này. Cũng có thể có được các thông tin từ các cơ quan tương ứng về bảo hiểm xã hội ở nước nguồn gốc của mình.
- Các công dân USA – Được áp dụng những qui chế của Hợp đồng về bảo hiểm xã hội giữa Cộng hòa Ba Lan và Hợp chủng Quốc Hoa kỳ ký ngày 2 tháng tư năm 2008 ở Vác-xa-va (Nhật trình các luật năm 2009 số 46 mục 374) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU20090460374 và Hiệp ước Hành chính về việc áp dụng Hợp đồng về bảo hiểm Xã hội giữa Cộng hòa Ba Lan và Hợp chủng quốc Hoa kỳ ký ngày 2 tháng tư năm 2008 tại Vac-xa-va (Nhật trình các luật năm 2009 số 46 mục 376) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU20090460376
Theo những văn bản trên, khi tính mức tiền hưu trí thường cộng các khoảng thời gian làm việc ở Ba Lan và Mỹ mà người làm việc được bảo hiểm. Cơ quan Ba Lan cung cấp nhiều hơn thông tin về vấn đề này là Cơ quan Bảo hiểm Xã hội ZUS – www.zus.pl
- Các công dân Ca-na-đa – Được áp dụng các qui chế có từ Hợp đồng về bảo hiểm xã hội giữa Cộng hoà Ba Lan và Ca-na-đa ký tại Vac-xa-va ngày 2 tháng tư năm 2008 (Nhật trình các luật năm 2009 số 133 mục 1095) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU20091331095 và của Hiệp ước Hành chính về việc áp dụng Hợp đồng về bảo hiểm xã hội giữa Cộng hòa Ba Lan và Ca-na-đa được ký ở Vac-xa-va ngày 2 tháng 4 năm 2008 (Nhật trình các luật năm 2009 số 133 mục 1097) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU20091331097
Nếu một người không có quyền hưởng tiền hưu trí do đã không tích trữ đủ số các thời kỳ (xem các thời kỳ nộp và không nộp dưới đây) được công nhận bởi Ba Lan hay Ca-na-đa, mức tiền hưu trí được xác định qua việc lấy tổng các thời kỳ bảo hiểm ở Ba Lan và Ca-na-đa (với điều kiện là các thời kỳ này không trùng nhau). Cơ quan Bảo hiểm Xã hội ZUS có thể cung cấp nhiều thông tin hơn về vấn đề này – www.zus.pl
- Các công dân Ma-xê-đô-na – Được áp dụng những qui chế của Hợp đồng giữa Cộng hòa Ba Lan và Ma-xê-đô-na về bảo hiểm xã hội (Nhật trình các luật năm 2007 số 229 mục 1686) − http://isap.sejm.gov.pl/DetailsServlet?id=WDU20072291686
Theo hợp đồng này các công dân Ma-xê-đô-na làm việc ở Ba Lan có cùng các quyền lợi và nghĩa vụ như các công dân Ba Lan. Tiền hwu trí cho họ được tính bằng cùng một cách như dùng cho các công dân Ba Lan (xem dưới đây). Khi tính mức tiền hưu trí các thời kỳ bảo hiểm ở Ba Lan và Ma-xê-đô-na được cộng lại (với điều kiện là chúng không trùng nhau). Cơ quan Ba Lan cho nhiều hơn thông tin về vấn đề này là Coq quan Bảo hiểm Xã hội ZUS – www.zus.pl
Nếu giữa Ba Lan và nước nguồn gốc của người nước ngoài làm việc ở Ba Lan và tiếp tục sống ở Ba Lan không được ký kết bất cứ hợp đồng nào, họ được hưởng tiền hưu trí trên các nguyên tắc như đối với các công dân Ba Lan. Điều đó có nghĩa là:
a) Nếu người này sinh trước 1 tháng giêng năm 1949, các nguyên tứac của „hệ hưu trí cũ” được áp dụng cho họ. Điều kiện để có tiền hưu trí trong trường hợp này là vào tuổi hưu trí và đã làm việc trong một thời kỳ dài tương ứng (thời kỳ nộp và không nộp).
Thời kỳ nộp trước hết là thời kỳ bảo hiểm nhưng cũng được tính vào đó (giữa những thời kỳ khác) thời kỳ nhận trợ cấp sinh đẻ.
Những thời kỳ không nộp là những thời kỳ khi nhận trợ cấp ốm đau hay chăm sóc, phúc lợi hồi phục, tiền mất sức do đau ốm, trợ cấp cho người thất nghiệp, các trợ cấp tập huấn hay học bổng, thời kỳ học đại học hay nghiên cứu sinh.
Điều căn bản là tiền hưu trí của người đó được tính theo thời kỳ khi họ được bảo hiểm ở Ba Lan. Điều đó có nghĩa là khi tính tiền hưu trí cho người nước ngoài, các thời kỳ làm việc của họ ví dụ như ở nước nguồn gốc không được kể đến (nếu nước này không phải là nước có ký kết hợp đồng với Ba Lan). Nếu những người này không làm việc ở Ba Lan đủ dài, họ không có quyền nhận tiền hưu trí.
Tuổi về hưu ở Ba Lan:
− đối với đàn ông là 65 tuổi;
− đối với phụ nữ là 60 tuổi.
Thời kỳ nộp và không nộp tối thiểu là:
− 25 năm đối với đàn ông;
− 20 năm đối với phụ nữ.
b) Nếu người này sinh sau 31 tháng 12 năm 1948, họ được áp dụng các nguyên tắc mới. Trong trường hợp này điều kiện duy nhất là đến tuổi về hưu (xem ở trên). Song quyền được nâng tiền hưu trí lên mức hưu trí tối thiểu (xem chương „Các tiền hưu trí và mất sức tối thiểu được đảm bảo”) chỉ giành cho những người chứng tỏ được rằng họ có thời kỳ nộp và không nộp tương ứng 20 năm cho phụ nữ hay 25 năm cho đàn ông. Nếu những người này làm việc ngắn hơn, họ sẽ nhận được tiền hưu trí nhưng rất thấp.
Cũng cần biết rằng, đối với những người sinh ra sau năm 1968 một phần tiền bảo hiểm hưu trí của họ bắt buộc phải chuyển sang các quỹ hưu trí mở (những người sinh giữa năm 1949 và 1968 có thể chọn Quỹ Hưu trí mở nếu họ muốn mà không bị bắt buộc). Quỹ như vậy do người được bảo hiểm tự lựa chọn.
Mức hưu trí của những người sinh sau năm 1969 được tính qua:
− lượng vốn của người được bảo hiểm trên tài khoản của ZUS và Quỹ Hưu trí mở;
− chỉ số kéo dài tiếp cuộc sống trung bình.
Để nhận được tiền hưu trí, cần phải đặt đơn tại cơ quan mất sức thích ứng với nơi ở. Trong đơn cần trình bày những giấy tờ:
− về các thời kỳ tuân theo các bảo hiểm xã hội;
− về mức lương – được người thuê cấp (tờ khai ZUS rp-7). Cũng có thể là sổ bảo hiểm hay hợp đồng làm việc trong đó có mức lương xác định.
2.8 Tiền trợ cấp
Nếu giữa Ba Lan và nước nguồn gốc của người nước ngoài không được ký kết bất cứ một hiệp định nào về vấn đề này, đối với họ sẽ được áp dụng cùng các qui chế về các tiền trợ cấp như cho người Ba Lan. Các qui chế này được mô tả dưới đây.
Tiền trợ cấp có thể là tàn phế, tập huấn hay gia đình.
Trợ cấp tàn phế giành cho những người làm đã mất khả năng thực hiện việc làm lấy lương. Sự mất khả năng này có thể là hoàn toàn (nếu họ không thể thực hiện được bất cứ công việc nào) hay một phần (khi họ không làm được công việc hợp với trình độ của họ). Việc xác nhận mất khả năng lao động thường cho thời kỳ không dài quá 5 năm. Người xác nhận là bác sỹ được ZUS ủy quyền. Người được bảo hiểm có quyền khiếu nại đến ủy ban bác sỹ về kết luận xác nhận của bác sỹ này trong vòng 14 ngày.
Trợ cấp tập huấn giành cho những người không đủ khả năng để thực hiện nghề của mình và phải chuyển nghề. Để phục vụ mục đích này, những người đó phải tập huấn ở phòng lao động nhằm kiếm việc mới. Tập huấn lao động được cấp trong khoảng thời gian 6 tháng, có thể được kéo dài tối đa đến 30 tháng hay rút ngắn lại nếu người nhận trợ cấp không tham gia vào tập huấn (chủ tịch huyện quyết định về việc này).
Trợ cấp tập huấn bằng 75% gốc tính trợ cấp.
Trợ cấp có thể cấp cho những người đã mất khả năng làm việc trong thời kỳ mà các tiền bảo hiểm trợ cấp cho họ được trả. Quyền hưởng trợ cấp phụ thuộc vào độ dài của thời kỳ này:
− đối với những người mất khả năng làm việc trước 20 tuổi – đòi hỏi thời kỳ nộp 1 năm
− đối với những người ở tuổi 20-22 – 2 năm
− đối với những người ở tuổi 22-25 – 3 năm
− đối với những người ở tuổi 25-30 – 4 năm
− đối với những người ở tuổi cao hơn 30 tuổi – 5 năm.
Trong trường hợp khi đối tượng mất khả năng làm việc trước 18 tuổi hay trong vòng 6 tháng trước khi học xong trường phổ thông trên cơ sở, thời kỳ nộp có thể ngắn hơn như đòi hỏi ở trên. Song người này phải chỉ ra được các thời kỳ nộp hay không nộp trước khi mất khả năng lao động (thế có nghĩa là họ phải được thuê làm việc trước đó hay đã hưởng phúc lợi sinh đẻ).
Mức trợ cấp phụ thuộc vào mức thu nhập mà từ đó được tính khoản bảo hiểm trợ cấp.
Việc xin trợ cấp tàn phế hay tập huấn.
Để có quyền hưởng trợ cấp cần đặt đơn ở ZUS trong vùng mình ở, với các giấy tờ kèm theo như sau:
− giấy chứng nhận về trạng thái sức khỏe được bác sỹ điều hành cấp;
− tờ khai ZUS N-10 được cơ quan làm việc khai;
− giấy chứng nhận về mức lương do cơ quan làm việc cấp (tờ khai Rp-7).
Trợ cấp gia đình giành cho các thành viên gia đình của người mà lúc chết đã có quyền nhận tiền hưu trí hay trợ cấp do mất khả năng lao động. Những người sau được tính là thành viên của gia đình:
- những đứa con của chính mình, các con riêng của người vợ hoặc chồng hay các con nuôi
Những người con có quyền nhận trợ cấp gia đình đến 16 tuổi hoặc đến 25 tuổi nếu chúng đi học (đến 26 tuổi nếu họ ở năm nghiên cứu cuối) hay không có giới hạn tuổi nếu họ hoàn toàn không có khả năng làm việc và không tự tồn tại được.
- Các cháu vị thành niên, anh em, các đứa trẻ khác (trong đó có các trẻ em thuộc gia đình thay thế) được chăm sóc và giáo dục bởi người đã mất
Các em này được hưởng theo các nguyên tắc như đối với các con đẻ, với cả điều kiện là những người này đã được nhận nuôi và giáo dục ít nhất một năm trước cái chết của người được bảo hiểm, trừ khi cái chết là kết quả của tai nạn, và họ không có quyền nhận trợ cấp sau cha mẹ cũng như không được cha mẹ nuôi, còn người chết đã là người đỡ đầu được tòa qui định.
- vợ chồng
Người vợ (chồng) góa có quyền nhận trợ cấp sau người chết khi thỏa mãn điều kiện về tuổi hay mất khả năng lao động. Quyền hưởng trợ cấp sau người vợ (chồng) chết giành cho người đạt đến 50 tuổi khi người bạn đời mất hay lúc đó đã mất khả năng lao động. Người vợ (chồng) cũng có quyền nhận trợ cấp sau chồng (vợ) khi nuôi ít nhất một nguời có quyền nhận trợ cấp sau người chết (con/cháu/anh em dưới 16 tuổi hay 18 tuổi nếu đang đi học, hoặc hoàn toàn không có khả năng lao động). Ngoài ra người vợ (chồng) cũng có quyền nhận trợ cấp nếu thỏa mãn điều kiện về tuổi hay mất khả năng lao động trong thời gian 5 năm kể từ khi chồng (vợ) mất hay ngừng nuôi người nói ở trên (con/cháu/anh em ở tuổi đến 16 tuổi hay 18 tuổi nếu đang đi học). Vợ (chồng) ly dị hay ly thân với người mất có quyền nhận trợ cấp gia đình nếu đã nhận được quyền nhận trợ cấp nuôi dưỡng.
- Cha mẹ (trong đó có bố dượng hoặc mẹ kế)
Họ có quyền nhận trợ cấp nếu đã được người mất nuôi và thỏa mãn các điều kiện như trong trường hợp vợ chồng – điều kiện tuổi, mất sức lao động hay nuôdi những trẻ vị thành niên (xem ở trên).
Mức trợ cấp gia đình phụ thuộc vào mức trợ cấp hay tiền hưu trí của người đã chết. Đối với một người được quyền hưởng mức này là 85% tiền trợ cấp/hưu trí.
Đối với hai người được quyền – 90%.
Đối với 3 và nhiều hơn người được hưởng – 95%.
Nếu nhiều hơn là một người, tiền trợ cấp được chia đều cho mọi người được hưởng.
2.9 Các tiền hưu trí và trợ cấp thấp nhất được đảm bảo
Từ 1 tháng ba năm 2009 những mức hưu trí và trợ cấp thấp nhất được qui định như sau:
- tiền hưu trí/trợ cấp mất khả năng lao động hoàn toàn/trợ cấp gia đình – 675,10 zloty
- trợ cấp mất khả năng lao động một phần – 519,30 zloty
- trợ cấp mất khả năng lao động hoàn toàn do tai nạn và bệnh nghề nghiệp/ trợ cấp tai nạn gia đình – 810,12 zloty
- trợ cấp mất khả năng lao động một phần do tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp – 623,16 zloty
2.10 Phụ cấp hộ lý
Người nước ngoài có trợ cấp và hưu trí có thể được hưởng phụ cấp hộ lý. Khoản này được giành cho những người hoàn toàn mất khả năng lao động và tự tồn tại hoặc đã hết 75 tuổi. Phụ cấp này là 173,10 zloty hàng tháng.
2.11 Những phúc lợi từ bảo hiểm ốm đau
a) Phúc lợi ốm đau – giành chongười được bảo hiểm do ốm đau mà mất khả năng lao động. Trong 33 ngày đầu người ốm nhận được lương cho thời gian đau ốm (người thuê chi). Phúc lợi ốm đau tính từ ngày thứ 34 mắc bệnh và có thể được cấp trong thời gian ốm song không dài hơn 182 ngày (trong trường hợp bệnh – 270 ngày). Những ngày mà người ốm nhận được lương cho thời gian ốm đau và những ngày nghỉ được tính vào khoảng thời gian này.
Điều căn bản là người ốm có bảo hiểm ốm đau.
- Nếu là bảo hiểm bắt buộc, người ốm sẽ được hưởng phúc lợi này chỉ khi có bảo hiểm ốm đau liên tục trong 30 ngày.
- Nếu là bảo hiểm tự nguyện – người ốm phải được bảo hiểm trước đó liên tục ít nhất 180 ngày.
Ngoại lệ là:
− những người đã tốt nghiệp các trường (cả các trường đại học), nếu sau khi học xong tiến hành bảo hiểm ốm đau trong vòng 90 ngày;
− nhũng người mất khả năng lao động do tai nạn dọc đường khi đến hoặc về từ chỗ làm việc;
− những người có bảo hiểm bắt buộc mà trong 10 năm trước đó có bảo hiểm ốm đau.
Những người được kể đến được hưởng phúc lợi ốm đau từ ngày đầu tiên nếu họ có bảo hiểm ốm đau.
Mức phúc lợi ốm đau hàng tháng bằng 80% gốc cơ sở tính phúc lợi (thường là tiền lương). Nếu người ốm nằm viện – là 70%. Còn khi mất khả năng làm việc do có thai hay tai nạn trên đường đến hay về từ chỗ làm việc, hoặc do những nghiên cứu y học (những người hiến các tế bào, các mô hay các bộ phận cơ thể) – phúc lợi lúc đó sẽ ở mức100% mức tính (tức là theo nguyên tắc là cả tiền lương).
b) Phúc lợi hồi phục – người có bảo hiểm không lấy lại khả năng làm việc được sau khi hết khoản phúc lợi ốm đau. Phúc lợi này được cấp không quá thời gian 12 tháng. Bác sỹ được ZUS ủy quyền phán xét về quyền được hưởng phúc lợi này (người có bảo hiểm có thể khiếu nại phán xét này lên ủy ban bác sỹ trong thời gian 14 ngày kể từ khi điều phán xét được trao tay).
Phúc lợi hồi phục không giành cho những người đã có tiền hưu trí/trợ cấp mất khả năng lao động/trợ cấp thất nghiệp/trợ cấp trước hưu trí/phúc lợi giáo viên bù trừ/đang nghỉ để cứu lại sức khỏe.
Khoản phúc lợi hồi phục bằng 90% phúc lợi ốm đau trong 3 tháng đầu, sau đó là 75%, còn khi mất khả năng lao động trong thời kỳ mang thai – 100%.
c) Phúc lợi bù trừ – chỉ giành cho những người có bảo hiểm là những người làm (vậy chủ yếu được thuê theo hợp đồng làm việc). Nó giành cho các cán bộ mà tiền lương bị giảm đi do:
− thực hiện hồi phục trong trung tâm hồi phục của cơ quan hoặc liên cơ quan;
− do trạng thái sức khỏe đã bị chuyển sang vị trí làm việc khác thích hợp với các nhu cầu thích nghi và học nghề.
Phúc lợi bù trừ được hưởng trong thời gian phục hồi nghề nghiệp song không dài hơn 24 tháng (nếu thấy hồi phục là thừa – sẽ ngắn hơn). Trung tâm y tế lao động của tỉnh hay bác sỹ được ZUS ủy quyền phán xét về nhu cầu hồi phục nghề nghiệp này.
Phúc lợi bù trừ là hiệu số của lương trung bình hàng tháng và lương trong thời gian hồi phục.
Những cán bộ đã hưởng tiền hưu/trợ cấp mất khả năng lao động/phúc lợi giáo viên bù trừ không được hưởng phúc lợi bù trừ.
d) Phúc lợi sinh đẻ – giành cho người đang làm việc và được bảo hiểm và trong giai đoạn bảo hiểm ốm đau cũng như nghỉ nuôi con:
− đã sinh con;
− nhận nuôi trẻ em đến 7 tuổi (hoặc 10 tuổi nếu nghĩa vụ đi học bị hoãn lại) và đã đệ đơn lên tòa chăm sóc xin làm con nuôi;
− nhận nuôi con trẻ trong khuôn khổ gia đình thay thế (trừ trường hợp gia đình thay thế nghề nghiệp không họ hàng với đứa trẻ); đứa trẻ phải đến 7 tuổi (hay 10 tuổi khi nghĩa vụ đi học bị hoãn lại).
Phúc lợi này được cấp trong thời gian nghỉ đẻ. Phụ thuộc vào số con sinh ra trong một lần đẻ mà phúc lợi này được cấp theo các thời gian:
- 20 tuần khi đẻ một con;
- 31 tuần khi đẻ sinh đôi;
- 33 tuần khi đẻ sinh ba;
- 35 tuần khi đẻ sinh tư;
- 37 tuần khi đẻ sinh năn hay nhiều hơn.
- 31 tuần khi đẻ sinh đôi;
- 33 tuần khi đẻ sinh ba;
- 35 tuần khi đẻ sinh tư;
- 37 tuần khi đẻ sinh năn hay nhiều hơn.
Người cha có bản hiểm cũng có thể được hưởng phúc lợi. Người cha hưởng phúc lợi nếu khi do người mẹ mất hoặc con đẻ ra bị mẹ bỏ rơi mà phải ngừng làm việc để chăm sóc con. Người cha cũng có thể hưởng phúc lợi khi người mẹ dùng 14 ngày nghỉ tối thiêu và từ bỏ phần phúc lợi sinh đẻ còn lại cho người cha, khi người cha này nghỉ do sinh đẻ hay ngừng công việc kiếm tiền để nuôi con.
Phúc lợi sinh đẻ hàng tháng bằng 100% tiền lương.
e) Phúc lợi chăm sóc – giành cho những người có bảo hiểm phải ngừng làm việc để chăm sóc:
− trẻ em đến 8 tuổi, trong trường hợp:
− khi nhà trẻ/vỡ lòng/trường học mà trẻ em đi học bất chợt bị đóng cửa;
− sinh đẻ hay ốm đau của vợ (chồng) là người thường xuyên chăm sóc đứa trẻ;
− khi vợ (chồng) thường xuyên chăm sóc đứa trẻ phải ở trong trạm y tế (bệnh viện v.v.).
− trẻ em ốm đến tuổi 14;
− một thành viên khác của gia đình bị ốm (vợ hoặc chồng /cha hoặc mẹ/ bố mẹ vợ/ ông / cháu / anh em/ trẻ em trên 14 tuổi – nếu sống cùng người có bảo hiểm dưới cùng một mái nhà trong thời gian chăm sóc).
Phúc lợi này được cấp không dài hơn 60 ngày trong năm (trong trường hợp chăm sóc con đến 8 tuổi hay con bị bệnh đến 14 tuổi) hay 14 ngày trong năm (trong trường hợp chăm sóc những thành viên khác của gia đình).
Phúc lợi chăm sóc hàng tháng bằng 80% tiền lương.






