MIGRANT.INFO.PL

Vào Ba Lan

Khi vào Ba Lan cần có:
- hộ chiếu hoặc giấy tờ đi đường có giá trị khác (những công dân Liên minh Châu Âu có thể có giấy tờ tùy thân khác thay cho hộ chiếu);
- thị thực có giá trị nếu nó được đòi hỏi;
- Trong trường hợp đi quá cảnh qua Ba Lan đến một nước khác – giấy phép vào nước khác hay giấy phép cư trú ở nước khác nếu được đòi hỏi.
 
Ở biên giới người nước ngoài có thể được hỏi về mục đích và những điều kiện cư trú ở Ba Lan. Ngoài những giấy tờ đi đường và thị thực cần thiết người nước ngoài cần phải có:
- giấy tờ chứng nhận có bảo hiểm sức khỏe trong thời gian ở Ba Lan – trong trường hợp vào trên cơ sở thị thực trong nước – các phương tiện đủ ăn ở trong thời gian cư trú và trở về nước gốc (xem – Tiền tối thiểu để ở và quay lại)
           Đòi hỏi này không cần đối với những người vào Ba Lan trên cơ sở:
- hợp đồng quốc tế miễn cho người nước ngoài nghĩa vụ có các phương tiện hay theo đó các cơ quan nhà nước và các công sở có nghĩa vụ chi các phí tổn cư trú của người nước ngoài hoặc
- thị thực nhằm hồi hương, hoặc
- thị thực nhằm làm việc, hoặc
- thị thực nhàm hưởng che chở tạm thời, hoặc
- thị thực nhằm tham gia vào quá trình xin tị nạn, hoặc
- thẻ cư trú, hoặc
- thị thực nhàm hưởng các quyền lợi liên quan với thẻ Người Ba Lan.
Đòi hỏi này cũng không áp dụng với những người vào mang theo trợ giúp nhân đạo hay liên quan đến việc tham gia hoạt động cứu nạn.
Văn bản chứng nhận khả năng ăn ở tại Ba Lan có thể là giấy mời (xem – Giấy mời)
           
Giấy mời
 
Văn bản chứng nhận khả năng ăn ở tại Ba Lan có thể là giấy mời. Giấy mời như vậy có thể được làm bởi:
·         công dân Ba Lan sống ở Ba Lan;
·         công dân của nước khác thuộc Liên minh Châu Âu thường trú tại Ba Lan;
·         người nước ngoài khác sống hợp pháp liên tục trên lãnh thổ Ba Lan ít nhất 5 năm hay có giấy phép định cư hay giấy phép cư trú dài hạn của Cộng đồng Châu Âu;
·         cơ quan có tư cách pháp nhân hay đơn vị tổ chức không có tư cách pháp nhân nhưng có trụ sở ở Ba Lan. Như vậy ví dụ đó có thể là công ty hay một tổ chức phi chính phủ.
Trong giấy mời cần phải có những thông tin sau:
Ø dữ liệu của người mời: tên, họ, ngày sinh và nơi sinh, conng dân, địa chỉ ở, nghề nghiệp, số và loại giấy tờ tùy thân; hay: công ty hay tên gọi, số REGON, trụ sở;
Ø dữ liệu về người nước ngoài được mời: tên, họ, ngày và nơi sinh, giới tính, công dân, địa chỉ sống, số hộ chiếu và mức họ hàng nếu có với người mời;
Ø nếu cả các thành viên gia đình người nước ngoài – cả dữ liệu về họ: tên, họ, ngày sinh và giới tính người vợ (chồng) cùng các con;
Ø nghĩa vụ của người mời là chi trả các phí tổn ăn ở và đi về của người nước ngoài được mời, trong đó cả phí tổn chữa chạy nếu có và các phí tổn trục xuất khỏi Cộng hòa Ba Lan;
Ø xác địng thời điểm mời người nước ngoài;
Ø tên gọi của coq quan thực hiện việc viết giấy mời vào đăng ký giấy mời (thường làm việc này là coq quan tỉnh, phòng các vấn đề người nước ngoài; các giấy tờ được đặt ở chính cơ quan này hay chi nhánh địa phương của nó);
Ø ngày và số vào đăng ký giấy mời;
Ø chữ ký của người mời .
Lệ phí ngân quỹ cho việc viết vào đăng ký giấy mời là 27 zloty.
 
Các khoản tiền tối thiểu cho cư trú và quay lại
 
Các khoản tiền tối thiểu cho cư trú và quay lại nước gốc của người nước ngoài là khác nhau, phụ thuộc vào độ dài và mục đích cư trú
Nếu người nước ngoài vào lãnh thổ Ba Lan không dài hơn 3 ngày, cần phải có các phương tiện chi cho việc ăn ở, quá cảnh và trở về nước gốc ở mức ít nhất là 300 zloty hay ngoại tệ có giá trị tương đương.
Nếu người nước ngoài dự định cư trú ở Ba Lan nhiều hơn 3 ngày, họ phải có khoản 100 zloty trên một ngày cư trú hoặc ngoại tệ có giá trị tương đương.
Những văn bản chứng tỏ cho việc có những phương tiện này có thể là:
  • séc đi đường;
  • thẻ tín dụng có thể dùng được ở Ba Lan và chứng nhận về mức giới hạn tiền trên thẻ tín dụng;
  • thẻ chi tiêu có thể dùng được ở Ba Lan cùng chứng nhận về trạng thái tài khoản hiện có với bản trích lục về tài khoản hiện thời;
  • giấy chứng nhận về việc có các phương tiện chi tiêu trong nhà băng hay quỹ hợp tác tiết kiệm- cho vay có trụ sở trên lãnh thổ Ba Lan, được chứng nhận bằng triện và chữ ký cán bộ có thẩm quyền của nhà băng hay quỹ hợp tác tiết kiệm-cho vay, được cấp chậm nhất là một tháng trước khi qua biên giới;
  • bản chính của giấy mời (xem mục Giấy mời);
  • văn bản chứng nhận việc cấp học bổng đối với những người nước ngoài vào Ba Lan với mục đích học tập hay học tiếp, hoặc tham gia vào nghiên cứu khoa học hay tập huấn.
 
Người nước ngoài vào Ba Lan để học hay học tiếp, tham gia vào các nghiên cứu khoa học hay tập huấn, phải có khoản 1.600 zloty hay ngoại tệ có giá trị tương đương để chi trả các phí tổn ăn ở trong thời kỳ hai tháng đầu cư trú ở Ba Lan.
Các văn bản chứng nhận người nước ngoài có các phương tiện ăn ở có thể là:
  • giấy chứng nhận có phương tiện chi trả trong nhà băng hay quỹ hợp tác tiết kiệm-cho vay có trụ sở trên lãnh thổ Ba Lan, ở mức ít nhất là 1600 zloty, được chứng nhận bằng triện và chữ ký của cán bộ được ủy quyền của nhà băng hoặc quỹ hợp tác tiết kiệm-cho vay, được cấp chậm nhất là một tháng trước khi qua biên giới;
  • séc đi đường;
  • thẻ tín dụng mà người nước ngoài có thể dùng trên lãnh thổ Ba Lan cùng với giấy chứng nhận về mức giới hạn trên thẻ tín dụng;
  • thẻ chi tiêu được nhà băng cấp mà người nước ngoài có thể dùng trên lãnh thổ Ba Lan, cùng với giấy chứng nhận về trạng thái hiện thời của tài khoản hay bản trích lục hiện thời về tài khoản;
  • giấy mời (xem Giấy mời);
  • văn bản chứng nhận việc cấp học bổng.
 
Văn bản có thể khẳng định mục đích cư trú đwojc dự định đối với người nước ngoài muốn học hay học tiếp, tham gia vào các nghiên cứu khoa học hay tập huấn là giấy chứng nhận được nhận vào học, tham gia nghiên cứu khoa học hay tập huấn. Trong trường hợp mà từ giấy chứng nhận này suy ra là người nước ngoài học, tham gia vào các nghiên cứu khoa học hay tập huấn trên cở sở tự trả, còn đòi hỏi thêm bằng chứng đã trả tiền cho năm thứ nhất hay cả quá trình học nếu thời gian học ngắn hơn một năm, hay giấy chứng nhận có phương tiện ở mức đủ để trả lệ phí có trong giấy chứng nhận nói đến ở trên.
 
Người nước ngoài vào lãnh thổ Ba Lan:
Ø là người tham gia một cuộc du lịch, trại thanh niên, các cuộc đấu thể thao,
Ø có phí tổn cư trú ở Cộng hòa Ba Lan đã được trả,
Ø đến cơ sở điều trị-an dưỡng,
Ø là người tham gia vào chương trình cho phép thực hiện công việc hè trên lãnh thổ Ba Lan không phải là mục đích chính của cư trú, được tiến hành trong khuôn khổ hợp đồng quốc tế mà Ba Lan đã ký
- phải có phoản ít nhất 20 zloty cho mộtngày dự định ở, song không ít hơn 100 zloty hayngoại tệ có giá trị tương đương.  
Các văn bản khẳng định các mục đích được kể đến ở trên có thể là:
  • văn bản khẳng định việc tham gia vào một cuộc du lịch, trại thanh niên hay các cuộc đấu thể thao;
  • bằng chứng đã trả phí tổn cư trú ở Ba Lan trong phạm vi ít nhất là cho ăn ở;
  • giấy giới thiệu đến cơ sở điều trị-an dưỡng;
  • thị thực nhằm mục đích tham gia vào chương trình trao đổi văn hóa hay giáo dục, hoặc chương trình trợ giúp nhân đạo hay chương trình lao động hè của các sinh viên. Thị thực có tên gọi chương trình trong phần „các lưu ý”.
 
Di động nhỏ ở biên giới
 
Những người dân ở các vùng giáp gianh có thể vượt biên không cần thị thực trong khuôn khổ di động nhỏ ở biên giới, ngay cả khi đòi hỏi phải có thị thực (như vậy đối với những công dân Nga, Bạch Nga và Ucren sống trong vùng cận biên với Ba Lan). Song trong trường hợp đó họ phải có giấy phép. Để có được giáy phép vượt biên trong khuôn khổ di động nhỏ ở biên giới, phải đặt đơn xin ở lãnh sự Ba Lan. Kèm theo đơn xin là:
- ảnh,
- văn bản khẳng định việc sinh sống thường xuyên ở vùng cận biên,
- văn bản chứng nhận các nguyên do vượt biên nhiều lần.
Trên cơ sở giấy phép có thể ở trên lãnh thổ Ba Lan trong những điều kiện được xác định trong giấy phép, tức là chỉ trong thời gian có trong giấy phép và chỉ trong vùng cận biên được xác định trong đó.
 
Nghĩa vụ thị thực
 
Những người nước ngoài sau được miễn thị thực khi vào Ba Lan:
  • các công dân của các nước thuộc Liên minh Châu Âu và các công dân  Ai-xơ-len, Liechtenstein, Na-uy và Thụy sĩ – họ có quyền di chuyển dân cư tự do không thị thực trong khuôn khổ Liên Minh Châu Âu/Vùng Kinh tế Châu Âu;
  • Trong vòng 90 ngày từ khi vào Ba Lan công dân các nước sau: Andora, Antigua và Barbuda, Ac-giăng-tin, Úc, Bahama, Barbados, Brasil, Brunei, Chile, Croatia, Goa-tê-ma-la, Honduras, Hồng Công, Israel, Nhật, Ca-na-đa, Nam Triều tiên, Costarica, , Ma Cao, Mã Lai, Mauritius, Monaco, Nikaragua, Tân Đảo, Panama, Paraguay, Sal-va-dor, Saint Kitts và Nevis, San Marino, Se-se-le, Xanh-ga-po, Uruguay, Mỹ, Va-ti-can, Venezuela. Cần nhớ rằng điều này không liên quan đến việc vào định cư, làm việc hay hoạt động kiếm sống khác. Trong những trường hợp này phải xin thị thực.
 
Có thể được miễn thị thực đối với những thành viên các đội tàu biển khi ở vùng thành phố cảng. Song họ phải có giấy phép cấp bởi trưởng đồn Biên phòng. Đơn xin giấp phép được đặt bởi chủ tàu, thuyền trưởng hay đại diện được uỷ quyền của họ. Giấp phép đó có hạn  15 ngày và trong những trường hợp đạc biệt có thể kéo dài thêm 15 ngày.
Cả phi hành đoàn máy bay cũng thường được miễn thị thực. Điều kiện là phải được viết trong thông báo chung và đặt chuyến bay.
 
Những người nước ngoài còn lại phải có thị thực mới được vào Ba Lan. Đơn xin cấp thị thực đặt ở lãnh sự Ba Lan. Trong những trường hợp đặc biệt như cấp thị thực cho các thủy thủ, thị thực có thể được trưởng đồn Biên phòng cấp. Điều này chỉ áp dụng cho thị thực đồng đều (xem dưới đây).
 
Có ba loại thị thực:
a) thị thực cư trú nhất thống (được gọi là thị thực Schengen) – cho phép nhiều lần vào Ba Lan với điều kiện là cả độ dài cư trú liên tục lẫn độ dài tổng các lần ở tiếp nhau trên lãnh thổ các nước vùng Schengen không quá 3 tháng trong khoảng thời gian 6 tháng kể từ ngày vào lãnh thổ lần đầu. Thị thực này được đánh dấu bằng ký hiệu „C”;
b) thị thực quá cảnh nhất thống – cho phép đi qua Ba Lan và các nước vùng Schengen đến một nước khác ngoài vùng Schengen. Thời gian quá cảnh phông quá năm ngày.  Thị thục này có ký hiệu „B”. Thị thực này cho phép ở trong sân bay quốc tế trong vùng quá cảnh. Trong trường hợp đó được ký hiệu là „A”;
c) thị thực trong nước – thị thực này cho quyền vào và ở trên lãnh thổ Ba Lan hoặc vài lần cư trú liên tiếp. Thị thực này giành cho những người muốn ở Ba Lan dài hơn 3 tháng.  Trong khuôn khổ thị thực này thời gian cư trú hoặc tổng vài lần cư trú không dài hơn 1 năm trong thời gian thị thực có giá trị. Nếu người nước ngoài muốn ở dài hơn, sau thời gian đó phải xin thị thực mới. Thí thực này được ký hiệu là „D”.
Thời gian giá trị tối đa của thị thực cư trú nhất thống hay thị thực trong nước là 5 năm.  
Có thể xin thị thực với điều kiện có giất tờ đi đường (hộ chiếu) với thời gian có giá trị dài hơn ít nhất 3 tháng thời điểm dự định ra khỏi Ba Lan hay trong trường hợp thị thực nhất thống, ra khỏi lãnh thổ vùng Schengen.
Thị thực cư trú hay trong nước có thể được cấp (ngoài những mục đích khác) cho: du lịch; đi thăm; tham gia vào các cuộc thi đấu thể thao; tiến hành hoạt động kinh doanh; tiến hành hoạt động văn hóa hay tham gia vào các hội nghị quốc tế; thực hiện các công vụ; làm việc; học và các mục đích kha học khác; dùng quyền được che chở tạm thời; đến do các duyên cớ nhân đạo; do quyền lợi nhà nước hay nghĩa vụ quốc tế; đoàn tụ với công dân Liên minh Châu Âu hay EFTA hoặc ở cùng họ; tham gia trong chương trình trao đổi văn hóa hay giáo dục hoặc chương trình giúp đỡ nhân đạo, lao động hè của các sinh viên.
Chỉ thị thực trong nước có thể được cấp cho việc tham gia vào các thủ tục xin quyền tị nạn, hồi hương, hưởng các quyền có được từ Thẻ Người Ba Lan hay thực hiện việc cư trú có thời gian hạn định/ giấy phép định cư/ giấy phép cư trú dài hạn của các Cộng đồng Châu Âu.
 
Đơn xin thị thực:
Để xin thị thực vào Ba Lan phải đặt đơn ở lãnh sự Ba Lan. Tờ xin thị thực có thể lấy từ trang của Bộ Ngoại giao - http://www.msz.gov.pl/Polski,wniosek,wizowy,1805.html
Kèm theo đơn xin là:
- hai ảnh cho những người xin với kích thước 4,5cm x 3,5 cm;
- văn bản chứng nhận cho tình huống đưa ra trong đơn (ví dụ như liên quan đến mục đích đi);
- trong trường hợp xin thị thực cư trú – văn bản chứng nhận chi phí bởi hãng bảo hiểm các phí tổn chữa chạy trên lãnh thổ các nước vùng Schengen ở mức ít nhất 30000 euro;
- trong trường hợp xin thị thực trong nước – văn bản chứng nhận có bảo hiểm sức khỏe hay chứng nhận chi trả bởi hãng bảo hiểm phí tổn chữa chạy trên lãnh thổ Ba Lan trong thời gian dự định ở Ba Lan.
 
Nếu người nước ngoài xin thị thực để làm việc, phải trình giấy phép lao động hay giấy chúng nhận của người thuê mong muốn thuê làm việc nếu không đòi hỏi giấy phép lao động (xem chương làm việc)
 
Từ chối cấp thị thực
Lãnh sự có thể từ chối cấp thị thực trong các trường hợp sau:
- nếu dữ liệu của người nước ngoài có trong danh sách những người nước ngoài mà cư trú của họ trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan là không được mong muốn;
- trong trường hợp đơn xin cấp thị thực nhất thống, nếu người nước ngoài:
- không có giấy tờ đi đường hay những giấy tờ khác cho phép qua biên giới Schengen hợp lệ;
- không trình bày nổi mục đích và những điều kiện cho cư trú dự kiến và không có đủ các phương tiện ăn ở cho cả thời gian cư trú lẫn quay lại nước gốc hay quá cảnh sang nước khác, hoặc cả không có khả năng có được các phương tiện đó theo pháp luật;
- nằm trong đăng ký những người không mong muốn trong vùng Schengen
-  trong trường hợp đơn xin cấp thị thực trong nước, nếu:
            - không có đủ các phương tiện sinh sống trong thời gian cư trú tại Ba Lan
- không có bảo hiểm sức khỏe hay chứng nhận chi trả của hãng bảo hiểm các phí tổn điều trị trên lãnh thổ Ba Lan có giá trị trong thời gian ở Ba Lan
- có sự nghi ngại là việc cấp thị thực có thể đe dọa cho an ninh và quốc phòng cũng như trật tự đất nước hay vi phạm vào quyền lợi của Ba Lan
- thời gian có giá trị của giấy tờ đi đường (hộ chiếu) hết sớm hơn 3 tháng trước khi hết hạn thị thực xin được cấp
trong đơn hay những văn bản đi kèm có những thông tin sai
- người nước ngoài trong khi xin thị thực đã khai không đúng hai che đậy những thông tin căn bản hay không lý giải được mục đích cũng như những điều kiện của cư trú được dự định.
Quyết định của lãnh sự về từ chối cấp thị thực là quyết định cuối cùng.
 
Kéo dài thị thực 
Thị thực cư trú hay trong nước có thể được kéo dài với điều kiện:
- lý giải cho điều này là quyền lợi nghề nghiệp hay cá nhân quan trọng của người nước ngoài hay những khía cạnh nhân đạo và
- các biến cố gây ra việc xin kéo dài không phụ thuộc vào người nước ngoài và không đoán được trước khi cấp thị thực;
- những tình huống của vụ việc chỉ ra rằng mục đích ở của người nước ngoài không khác với mục đích đã khai;
- không xảy ra những tình huống là tiền đề cho từ chối cấp thị thực (xem Từ chối cấp thị thực).
 
Trong trường hợp người nước ngoài trong bệnh viện mà do trạng thái sức khỏe không chuyển được sang nước khác, thị thực được kéo dài cho đến ngày mà trạng thái sức khỏe của họ cho phép rời khỏi Ba Lan.
 
Đơn xin kéo dài thị thực có thể được đặt ít nhất 7 ngày trước khi hết thời hạn cư trú có trong thị thực nhất thống đã cấp hoặc 14 ngày trong trường hợp thị thực đát nước. Để kéo dài thị thực cần đặt đơn với các văn bản kèm theo được nói đến trong phần Đơn xin thị thực. Tỉnh trưởng quyết định việc kéo dài thị thực. Đơn phải đặt ở phòng các vấn đề người nước ngoài của cơ quan tỉnh.
 
Có lệ phí kéo dài thị thực. Trong trường hợp kéo dài thị thực cư trú ngắn hạn là 205 zloty, đối với thị thực dài hạn – 406 zł.
 
 
Hủy bỏ thị thực
Thị thực bị hủy bỏ nếu:
- dữ liệu của người nước ngoài có trong danh sách những người nước ngoài mà cư trú của họ không được mong muốn trên lãnh thổ Cộng hòa Ba Lan;
- Việcvào lãnh thổ Ba Lan của người nước ngoài có thể đe dọa cho an ninh của đất nước hay trật tự xã hội cũng như vi phạm quyền lợi của Ba Lan;
- thời hạn giấy tờ đi đường của người nước ngoài hết sớm hơn 3 tháng trước khi hết thời hạn thị thực được cấp;
- người nước ngoài trong đơn xin cấp thị thực hay trong những văn bản kèm theo đã trình bày những thông tin không đúng, đã khai báo không đúng hay trình bày các văn bản giả.
Ngoài ra thị thực có thể bị hủy nếu người nước ngoài không trình các văn bản đầy đủ khẳng định mục đích và những điều kiện cư trú dự kiến ở Ba Lan.
Quyết định hủy thị thực được ra bởi trưởng đồn hoặc đơn vị biên phòng. Có thể khiếu nại quyết định này đến Chỉ huy trưởng Biên phòng – www.strazgraniczna.pl
 
Các cơ sở ngoại giao Ba Lan cung cấp nhiều thông tin hơn về vấn đề vào Ba Lan. Danh mục các địa chỉ điện tử của các cơ sở ngoại giao có trên trang của Bộ ngoại giao - http://bazateleadresowa.poland.gov.pl/index.php?document=20